minh

[Koine Greek] A list of feminine nouns ending in -ος

Here is a list of feminine nouns ending in -ος whose declension follows the pattern below:

SingularPlural
Nominative
Vocative
Accusative
Genitive
Dative
ἡ ὁδός
ὁδέ 
την ὁδόν 
τῆς ὁδοῦ 
τῇ ὁδῷ
αἱ ὁδοί 
ὁδοί 
τᾱ̀ς ὁδούς 
τῶν ὁδῶν 
ταῖς ὁδοῖ 

Feminine nouns ending in -οϛ

1. ἄβῠσσος, οῦ, ἡ: abyss, the home of demons and evil spirit; the world of the dead (Ro 10.7)

2. ἀγριέλαιος, οῦ, ἡ: wild olive tree

3. ἄζωτος, οῦ, ἡ: Azotus, Ashdod of OT

4. ἄμέθυστος, οῦ, ἡ:  amethyst

5. ἄμμος, οῦ, ἡ: sand

6. ἀσσος, οῦ, ἡ: Assos

7. βάσανος, οῦ, ἡ: torment, pain

8. βάτος, οῦ, ἡ: bush, thornbush (Lk 6.44)

9. βῐ́βλος, οῦ, ἡ: book, record (Mt 1.1)

10. βύσσος, οῦ, ἡ: fine linen

11. Δαμασκός, οῦ, ἡ: Damascus

12. δῐᾰ́λεκτος, οῦ, ἡ: language, dialect, discourse

13. δῐᾰ́μετρος , οῦ, ἡ: diameter

14. διέξοδος, οῦ, ἡ: (doubtful mng.) δ. των οδών perhaps where the roads leave the city or along the main streets

15. εἴσοδος, οῦ, ἡ: coming, visit, entrance, access, reception, welcome

16. ἔξοδος, οῦ, ἡ: departure, death, the Exodus (from Egypt)

17. ἐρῆμος, οῦ, ἡ: deserted place, uninhabited region, desert

18. καλλιέλαιος, οῦ, ἡ: cultivated olive tree

19. καμηλος, οῦ, ἡ: m and f camel

20. καμινος, οῦ, ἡ: furnace, oven

21. κιβωτός, οῦ, ἡ: ark (of a ship); box (κ. της διαθήκης the convenient box)

22. Κνιδος, οῦ, ἡ: Cnidus

23. Κόρινθος, οῦ, ἡ: Corinth

24. ληνός, οῦ, ἡ: wine press

25. λιμός, οῦ, ἡ: m and f famine, hunger

26. μέθοδος, οῦ, ἡ: persuit, trick, persuit of knowledge, doctrine

27. Μίλητος, οῦ, ἡ: Miletus

28. ναρδος, οῦ, ἡ: Oil of nard (an aromatic plan)

29. νῆσος, οῦ, ἡ: island

30. νόσος, οῦ, ἡ: sickness, desease

31. ὄνος, οῦ, ἡ: m and f donkey

32. παραλιος, οῦ, ἡ: coastal district

33. παρθένος, οῦ, ἡ: virgin, unmarried girl

34. πάροδος, οῦ, ἡ: passage

35. Πάφος, οῦ, ἡ: Paphos

36. Πέργαμος, οῦ, ἡ: Pergamum

37. περιχωρος, οῦ, ἡ: surrounding region, neighborhood

38. πρόγονος, οῦ, ἡ: m or f parent, forefather

39. ράβδος, οῦ, ἡ: stick, staff, rod, scepter

40. Ρόδος, οῦ, ἡ: Rhodes

41. Σαμος, οῦ, ἡ: Samos

42. σαπφιρος, οῦ, ἡ: sapphire

43. σορός, οῦ, ἡ: a stand on which a corpse is carried, bier, coffin

44. σποδός, οῦ, ἡ: ashes

45. στάμνος, οῦ, ἡ: jar

46. συκαμινος, οῦ, ἡ: mulberry tree

47. ταρσος, οῦ, ἡ: Tarsus

48. τετραμηνος, οῦ, ἡ: period of 4 months

49. τριβος, οῦ, ἡ: path, pathway

50. τροφός, οῦ, ἡ: nurse, perhaps nursing mother (1 Th 2.7)

51. ὕαλος, οῦ, ἡ: glass, clear as glass

52. ψῆφος, οῦ, ἡ: pebble

Epitaph of Seikilos – Dành cho niềm hoan lạc của một cuộc đời

Thêm nữa, Εὐτέρπη trong Hy ngữ có nghĩa là good delight – niềm hoan lạc tốt lành. Vậy, người mà Seikilos dành tặng bài hát này chính là niềm hoan lạc của đời ông, nàng thơ của đời ông. 

Mấy hôm trước đang tìm mấy bài hát tiếng Hy Lạp thì vô tình mình biết được về Văn bia của Seikilos, được khắc trên bia đá từ thể kỷ thứ nhất, thứ hai Công nguyên. Hiện tại Văn bia của Seikilos đang được gìn giữ tại bảo tàng Quốc gia Đan Mạch tại Copenhagen. Người ta cho rằng đây là tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh lâu đời nhất được tìm thấy từ trước đến nay.

7197656994685531568a6ec888456

Văn bia của Seikilos có lời được khắc bằng Hy ngữ in hoa (majuscule) và nốt nhạc được ghi lại bằng hệ thống nốt nhạc Hy Lạp cổ là những chữ và ký hiệu be bé ở trên đầu các chữ in hoa. Bản văn trong phần trích dẫn dưới đây được viết lại bằng một hệ thống chính tả Hy ngữ cổ (cũng như Hy ngữ Tân Ước (Koine Greek) mình đang học) là hệ đa dấu (polytonic): có dấu sắc, dấu mũ, dấu huyền và thêm 2 dấu thở cứng, mềm, còn Hy ngữ hiện đại bây giờ sử dụng hệ thống đơn dấu (monotonic) chỉ có một dấu phụ là dấu sắc.

Εἰκὼν ἡ λίθος εἰμί. τίθησί με Σεικίλος ἔνθα μνήμης ἀθανάτου σῆμα πολυχρόνιον.

Ὅσον ζῇς φαίνου
μηδὲν ὅλως σὺ λυποῦ
πρὸς ὀλίγον ἔστι τὸ ζῆν
τὸ τέλος ὁ χρόνος ἀπαιτεῖ.

Σεικίλος Εὐτέρ

Toàn bộ phần văn bản viết khắc bia đá có thể được chia thành 3 phần: phần lời tựa, phần lời bài hát, và lời đề tặng.

i. Lời tựa

Εἰκὼν ἡ λίθος εἰμί. τίθησί με Σεικίλος ἔνθα μνήμης ἀθανάτου σῆμα πολυχρόνιον.

Mình tạm dịch:

I am a stone, a portrait. Seikílos put me there as a long-lasting sign of an immortal remembrance.

Ta là tảng đá, là một bức chân dung. Seikilos đã đặt ta nơi đó như một dấu chỉ lâu bền của một sự tưởng nhớ vĩnh hằng.

ii. Lời bài hát

Ὅσον ζῇς φαίνου
μηδὲν ὅλως σὺ λυποῦ
πρὸς ὀλίγον ἔστι τὸ ζῆν
τὸ τέλος ὁ χρόνος ἀπαιτεῖ.

Bản dịch tiếng Anh của mình:

While you live, shine
Nothing at all should you suffer
Life is only for a little while
Time demands the end

Phần Hy ngữ:

Ὅσον ζῇς φαίνου

While you live, shine

Ὅσον (conjunction of time) =  as long as, while

ζῇς: Second person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb ζαω = I live

φαίνου: Second person – Singular – Present tense – Imperative mood – Middle/Passive voice of the verb φαίνω = I shine

μηδὲν ὅλως σὺ λυποῦ

Nothing at all should you suffer

μηδὲν (pronoun) = nothing

ὅλως (adverb) =  at all

σὺ (Pronoun): Second person – Singular – Nominative case of σὺ = you

λυποῦ: Second person – Singular – Present tense – Imperative mood – Middle/Passive voice of the verb λῡπέω = to be pained, grieved, distressed

πρὸς ὀλίγον ἔστι τὸ ζῆν

Life is only for a little while

προς (preposition) = about, according to, against, among, at, because of, before, between, by, for, at someone’s house, in, for intent, nigh unto, of, which pertain to, governing the accusative case.

ὀλίγον: Accusative case – Singular – Neuter/Masculine form of the adjective ὄλιγος, ή, ον = few, little

ἔστι: Third person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb εἰμι = to be

τὸ ζῆν: Present active infinitive of the verb ζάω = I live

ζῆν is used with τὸ to be the subject of ἔστι

τὸ τέλος ὁ χρόνος ἀπαιτεῖ

Time demands the end/toll

τὸ τελος: Accusative case – Singular form of the masculine noun of 3rd declension τελος, εος, το = end, fulfillment, tax, toll

ὁ χρονος: Nominative case – Singular form of the masculine noun of 2nd declension χρονος, ου, ὁ = time

ἀπαιτεῖ: Third person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb απαιτω: I demand, I call for, I require

Ban đầu mình không có ý định dịch phần bài hát ra thành thơ tiếng Việt. Mà nếu có ý định, thì có lẽ cũng ngại vì sợ dịch lung tung không tới nơi tới chốn lại thấy bứt rứt. Nhưng khi dịch để hiểu và tiện tay viết xuống, thì nó lại nghe xuôi xuôi. Thôi lỡ rồi mình cứ ghi ở đây vậy:

Khi em sống, hãy luôn hoài tỏa sáng
đừng để buồn chiếm hữu lấy trong em
đời một chút, đời có là mấy tí
rồi ta cũng sớm trả nợ thời gian.

iii. Lời đề tặng

Từ phần lời đề tặng là 2 từ cuối cùng trên bia, người ta đã tôn tạo lại những phần bị khuyết hoặc được cho là viết tắt của một tên riêng nào đó. Một công trình tôn tạo cho rằng những từ này (phần trong ngoặc là phần được tôn tạo) là:

Σεικίλος Εὐτέρ[πῃ]
Seikílos Eutér[pēi]

Tạm dịch: Seikílos to Eutérpe – Seikílos tặng Eutérpe (1)

Một công trình khác lại giải nghĩa:

Σεικίλος Εὐτέρ[που]
Seikílos Eutér[pou]

Tạm dịch: Seikílos of Eutérpe – Seikílos, con của Eutérpe (2)

Theo cách giải thích số (1) được đa số các nhà nghiên cứu đồng ý thì đây là bài hát Seikilos viết gửi đến cho Euterpe, rất có thể là vợ ông. Còn theo cách giải thích số (2) thì Seikilos là con trai của Euterpe. 

Cá nhân mình thích nghĩ rằng, Euterpe có lẽ không phải là tên thật của vợ hay mẹ của Seikilos, có lẽ ông đã dùng một phép ẩn dụ bằng cách gọi người phụ nữ rất quan trọng của đời ông, dù đó là ai, bằng một danh hiệu: nàng thơ. Bởi Euterpe chính là tên của một trong 9 nàng thơ theo thần thoại Hy Lạp, và nàng là nữ thần Euterpe của âm nhạc và thơ vần. Thêm nữa, Εὐτέρπη trong Hy ngữ có nghĩa là good delight – niềm hoan lạc tốt lành. Vậy, người mà Seikilos dành tặng bài hát này chính là niềm hoan lạc của đời ông, nàng thơ của đời ông. 


Phần nhạc của Văn bia Seikilos được viết ở một nhịp tương tự nhịp 6/8 ngày nay, trên âm giai Phrygian, nhưng đó là âm giai Phrygian của Hy Lạp cổ đại, thay vì âm giai Phrygian trung cổ hay hiện đại.  Thật sự là mình muốn viết rõ thêm phần này, nhưng vì chưa đủ trình độ, đọc tài liệu nhạc lý cũng chữ hiểu chữ không, nên thôi mình tạm chưa viết, mong sớm sớm bớt thiếu hiểu biết để bổ xung thêm! 

Bỏ qua một bên sự thiếu hiểu biết của mình, khi mình xem trên wiki thì theo ngôn ngữ âm nhạc ngày nay, bài hát của Seikilos có thể, và đã, được viết lại như thế này: 


Cuối cùng, mình cảm thấy thật đẹp biết bao khi bài hát này ca tụng tình yêu, ca tụng cuộc sống, bởi mình luôn tin rằng yêu thương là điều duy nhất mà người ta có khả năng trao cho nhau. Và từ thời xa xưa đó, người ta đã yêu, đã hát về tình yêu, đã muốn bao thế hệ sau nhìn thấy được một “dấu chỉ lâu bền của một sự tưởng nhớ vĩnh hằng”, vậy sao mình lại không?


Bài viết trên tổng hợp và tham khảo từ các nguồn:

  1. The Seikilos Epitaph – https://en.wikipedia.org/wiki/Seikilos_epitaph
  2. Ancient Greek Accent – https://en.wikipedia.org/wiki/Ancient_Greek_accent
  3. Greek Diacritics – https://en.wikipedia.org/wiki/Greek_diacritics
  4. Koine Greek – https://en.wikipedia.org/wiki/Koine_Greek
  5. Letter Case – https://en.wikipedia.org/wiki/Letter_case
  6. The Polytonic and Monotonic Systems – https://elder-newton.mizinamo.org/polytonic
  7. Ancient Greek Lesson 1: The Greek Alphabet – https://bit.ly/2L6by1K
  8. Soi House – http://soi.today/?p=53254
  9. Người bạn rất tốt của mình: YouTube.

(thơ) The Unexpected

Let me love you more.

Dearest love,

It’s your soul and your mind

That I fall for not just twice,

But a million years, again and again

Every time you smile.

Let me love you more.

Dearest love,

It’s what you’re going through

That I cry for and it’s blue,

Just a million years, again and again

Every time you’re missed.

Let me love you more,

Dearest love,

It’s how you walk this way

That I’d be still and not afraid,

Like, a million years, again and again

Every time you love.

I will love you more,

Dearest love,

It’s who you choose to be

That I sincerely opt to see.

And, a million years, again and again

Every single time,

You’re forever loved.

– m, 070818

(thơ) Một ngày tôi đã mơ thấy trời mây

Nhắm mắt lại anh thấy một bài thơ

Trong thẫn thờ có một người vẽ nhớ

Tranh tô kín với buồn và nỗi sợ

Không mặt trời, chỉ chiếc bóng bơ vơ.

Anh cất bước đi dạo ở trong mơ

Chẳng mấy bước đã ra tới bến bờ

Nơi mù mịt, có căn nhà tạm bợ

Anh mỉm cười, thấy cuộc sống đơn sơ.

– m, 061818

(thơ) On an usual dusk

And,
Most of them are so intolerably blue.

Here I am

On

A very usual dusk

With

A very unusual state of mind

And

A craving for something I cannot buy

Something like,

“Love me lots, don’t love me maybe”

Or I would say

Feel me lots, don’t feel me maybe

Then

Memories flash back to when I was tiny

But

I’m not even sure if it’s memory

Or

It’s just my endless creativity

That is

How empty I feel right now

So

I try to fill myself up

With

Some tunes that I know are true

And

Most of them are so intolerably blue.

m, 032918

(thơ) Mùng 3 Tết

Tôi sợ một đêm
Ngại ở một mình
Đi tìm bằng hữu
Chẳng thấy bóng hình.
Tôi sợ một chiều
Tôi mong mình lớn
Chân thì hoài bước
Xa bữa cơm nhà.
Tôi sợ một trưa
Nắng vàng mê hoặc
Tôi chạy đuổi bắt
Gặp ngay tôi buồn.
Tôi sợ một sáng
Tỉnh giấc ngẩn ngơ
Ước mơ bay mất
Tôi đang chốn nào?

– m, 021918

(thơ) for Cheo

“In the cosmos tree of life,
A free spirit is raised and thrive.”

In the cosmos tree of life

A free spirit is raised and thrive

In the cosmos tree of life

A curious heart is wandering wild

Dwell here, the look in the vagabond’s eyes

It loves better, gives better, and never ceases asking why

Blessed is your soul, in this world so dire

Blessed is your soul, in this world so nice

And in this cosmos tree of life

It’s all brightened up by your smiles.

271017

Happy new year, dearest Cheo!

(thơ) A lover

A glimpse of rainbow light

Flashes through the lover’s eyes

A glimpse of real life

So tender and warm…

‘Coz for once in awhile

The lover feels loved

And doesn’t have to fight

Then, the lover says

“I don’t want to die

But I’m the fighter, I cannot deny”

My dear soldier, fly!

‘Coz wars aren’t meant for you to survive

Even if you win, you’re torn inside

It is something time just couldn’t heal

So,

Love simply,

Love gently,

Love whatever will be,

Be the lover whose life can only be taken by love.

– m, 102517

(thơ) My dear little friend

My dear little friend
What if we become some little old men
When we’re broke and hurt and empty hands
And for our words, no one understands
Would we still love?
My dear little friend
Why must we measure the depth of our pain
Let them be, let them pass and help we learn
For if I forever wincing
Would we still be loved?
My dear little friend
One day we’ll be grey and time is against
Will we blame those love songs when our backs are bent
For what we once would just die for,
And we would still die for.

m, to Jim

(thơ) Ông bà nội

Em ơi, những ngày mưa tâm hồn tôi bận rộn

Tháp chuông cao vẫn chẳng bối rối gì

Và tiếng máy vẫn đều đặn, rung đất 

Rả rích hoài, bóng em vừa lướt qua.

Rồi một ngày, ta sẽ thôi nghe thấy

Mà trông cậy vào trí nhớ của nhau

Thứ lớn lao mình không quên, em nhỉ!

Em có muốn nhớ điều gì nhỏ bé?

m, 042516

Design a site like this with WordPress.com
Get started