Cái phép thuật mời gọi của sách và nhạc là đôi khi, chúng lối kéo ta vào một thế giới thật khác thế giới ta đang sống và hào phóng mời gọi ta trở thành một phần trong đó, nhưng rồi một ngày khác, thực tại của chúng và của ta va chạm với nhau.
Cái phép thuật mời gọi của sách và nhạc là đôi khi, chúng lối kéo ta vào một thế giới thật khác thế giới ta đang sống và hào phóng mời gọi ta trở thành một phần trong đó, nhưng rồi một ngày khác, thực tại của chúng và của ta va chạm với nhau. Thi thoảng, mình lại ngạc nhiên trước tính lịch sử mà lại thật riêng tư của sách vở, âm nhạc.
Sách vở, âm nhạc, và cuộc sống ở cùng nhau trong một mối liên hệ tinh tế. Thực tại mình đang sống, với những sách mình đọc gần đây, khiến tác phẩm A simple heart (Một tâm hồn đơn sơ) của Flaubert trở nên một nguồn cảm hứng kỳ diệu quay lại dưỡng nuôi chính thực tại kia. Cũng vì thực tại ấy, Diary of a country priest (Nhật ký của một cha xứ miền quê) của Bernanos và Narcissus and Goldmund (Nhà khổ hạnh và kẻ lang thang) của Narcissus đem được đến cho mình một niềm hy vọng thiêng liêng.
Hay chỉ mới sáng nay sau khi đọc tin tức, mình nhìn thấy bản thân trong chàng Bob Dylan trẻ tuổi, giận dữ. Đó là lần đầu tiên. Mình vẫn luôn ngưỡng mộ ông, nhưng đối mặt với các chủ đề mà hai bác Dylan và Trịnh Công Sơn thường viết về, mình trước giờ vẫn giữ một thái độ “Trịnh” hơn. Nhưng vì những gì xảy ra trong mình, và thế sự đang diễn ra quanh mình, lần này, một Dylan cứng rắn, thẳng thắn cho mình nhiều sự đồng cảm hơn.
The luring magic of books and music is they can, at a time, draw you a world so different from the one you are living and generously invite you to be a part of, then some other times, their realities and yours collide. Now and then, I am amazed at how they are so historical and personal.
They are all in this subtle connection with one another, all the books and songs and life. Now, from my recent reads, the reality I am living makes Flaubert’s A simple heart such an uncanny inspiration that goes back to educate that very reality. It is also for that reality that Bernanos’ Diary of a country priest and Hesse’ Narcissus and Goldmund successfully brought me spiritual hopefulness.
Or just like this morning, after reading the news, I see myself in the angry, young Bob Dylan, for the first time. I have always admired him, but I have been taking a more Trịnh-ish attitude on what they both wrote about. Though, for all that is happening inside and outside of me, the sugar-coating free Dylan speaks just a little louder in me.
With the dearest Father André Đương and some of my favorite people practicing this classic piece for the closing ceremony of the 2018-2019 school year on May 31st, 2019 in Lasalle Mai Thôn.
This video was recorded 2 days before the performance:
We were thrilled that Father chose this piece for us mere beginners, especially the “mandolin gang”, because for most of us, it is the first mandolin we’ve had. We had been working on this for 2 months, with group practice every Tuesday at lunch time (my gratitude and apology to our Lasallian freres for your kindness and endurance.)
Father was excited, and he was really happy that we played without making any audible mistakes during our performance at the ceremony. We, too, were happy.
It’s lovely that the school year of Lasalle Mai Thôn is going to begin soon (though I wouldn’t take classes there anymore), because I truly am looking forward to getting back with the improvised music class with “Professor Đương”.
And, for whatever Nhóm nhạc của Cha Đương strives, may we always thrive!
Thêm nữa, Εὐτέρπη trong Hy ngữ có nghĩa là good delight – niềm hoan lạc tốt lành. Vậy, người mà Seikilos dành tặng bài hát này chính là niềm hoan lạc của đời ông, nàng thơ của đời ông.
Mấy hôm trước đang tìm mấy bài hát tiếng Hy Lạp thì vô tình mình biết được về Văn bia của Seikilos, được khắc trên bia đá từ thể kỷ thứ nhất, thứ hai Công nguyên. Hiện tại Văn bia của Seikilos đang được gìn giữ tại bảo tàng Quốc gia Đan Mạch tại Copenhagen. Người ta cho rằng đây là tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh lâu đời nhất được tìm thấy từ trước đến nay.
Văn bia của Seikilos có lời được khắc bằng Hy ngữ in hoa (majuscule) và nốt nhạc được ghi lại bằng hệ thống nốt nhạc Hy Lạp cổ là những chữ và ký hiệu be bé ở trên đầu các chữ in hoa. Bản văn trong phần trích dẫn dưới đây được viết lại bằng một hệ thống chính tả Hy ngữ cổ (cũng như Hy ngữ Tân Ước (Koine Greek) mình đang học) là hệ đa dấu (polytonic): có dấu sắc, dấu mũ, dấu huyền và thêm 2 dấu thở cứng, mềm, còn Hy ngữ hiện đại bây giờ sử dụng hệ thống đơn dấu (monotonic) chỉ có một dấu phụ là dấu sắc.
While you live, shine Nothing at all should you suffer Life is only for a little while Time demands the end
Phần Hy ngữ:
Ὅσον ζῇς φαίνου
–
While you live, shine
Ὅσον (conjunction of time) = as long as, while
ζῇς: Second person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb ζαω = I live
φαίνου: Second person – Singular – Present tense – Imperative mood – Middle/Passive voice of the verb φαίνω = I shine
μηδὲν ὅλως σὺ λυποῦ
–
Nothing at all should you suffer
μηδὲν (pronoun) = nothing
ὅλως (adverb) = at all
σὺ (Pronoun): Second person – Singular – Nominative case of σὺ = you
λυποῦ: Second person – Singular – Present tense – Imperative mood – Middle/Passive voice of the verb λῡπέω = to be pained, grieved, distressed
πρὸς ὀλίγον ἔστι τὸ ζῆν
–
Life is only for a little while
προς (preposition) = about, according to, against, among, at, because of, before, between, by, for, at someone’s house, in, for intent, nigh unto, of, which pertain to, governing the accusative case.
ὀλίγον:Accusative case – Singular – Neuter/Masculine form of the adjective ὄλιγος, ή, ον = few, little
ἔστι:Third person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb εἰμι = to be
τὸ ζῆν: Present active infinitive of the verb ζάω = I live
ζῆν is used with τὸ to be the subject of ἔστι
τὸ τέλος ὁ χρόνος ἀπαιτεῖ
–
Time demands the end/toll
τὸ τελος:Accusative case – Singular form of the masculine noun of 3rd declension τελος, εος, το = end, fulfillment, tax, toll
ὁ χρονος: Nominative case – Singular form of the masculine noun of 2nd declensionχρονος, ου, ὁ = time
ἀπαιτεῖ:Third person – Singular – Present tense – Indicative mood – Active voice of the verb απαιτω: I demand, I call for, I require
Ban đầu mình không có ý định dịch phần bài hát ra thành thơ tiếng Việt. Mà nếu có ý định, thì có lẽ cũng ngại vì sợ dịch lung tung không tới nơi tới chốn lại thấy bứt rứt. Nhưng khi dịch để hiểu và tiện tay viết xuống, thì nó lại nghe xuôi xuôi. Thôi lỡ rồi mình cứ ghi ở đây vậy:
Khi em sống, hãy luôn hoài tỏa sáng đừng để buồn chiếm hữu lấy trong em đời một chút, đời có là mấy tí rồi ta cũng sớm trả nợ thời gian.
iii. Lời đề tặng
Từ phần lời đề tặng là 2 từ cuối cùng trên bia, người ta đã tôn tạo lại những phần bị khuyết hoặc được cho là viết tắt của một tên riêng nào đó. Một công trình tôn tạo cho rằng những từ này (phần trong ngoặc là phần được tôn tạo) là:
Σεικίλος Εὐτέρ[πῃ] Seikílos Eutér[pēi]
Tạm dịch: Seikílos to Eutérpe – Seikílos tặng Eutérpe (1)
Một công trình khác lại giải nghĩa:
Σεικίλος Εὐτέρ[που] Seikílos Eutér[pou]
Tạm dịch: Seikílos of Eutérpe – Seikílos, con của Eutérpe (2)
Theo cách giải thích số (1) được đa số các nhà nghiên cứu đồng ý thì đây là bài hát Seikilos viết gửi đến cho Euterpe, rất có thể là vợ ông. Còn theo cách giải thích số (2) thì Seikilos là con trai của Euterpe.
Cá nhân mình thích nghĩ rằng, Euterpe có lẽ không phải là tên thật của vợ hay mẹ của Seikilos, có lẽ ông đã dùng một phép ẩn dụ bằng cách gọi người phụ nữ rất quan trọng của đời ông, dù đó là ai, bằng một danh hiệu: nàng thơ. Bởi Euterpe chính là tên của một trong 9 nàng thơ theo thần thoại Hy Lạp, và nàng là nữ thần Euterpe của âm nhạc và thơ vần. Thêm nữa, Εὐτέρπη trong Hy ngữ có nghĩa là good delight – niềm hoan lạc tốt lành. Vậy, người mà Seikilos dành tặng bài hát này chính là niềm hoan lạc của đời ông, nàng thơ của đời ông.
Phần nhạc của Văn bia Seikilos được viết ở một nhịp tương tự nhịp 6/8 ngày nay, trên âm giai Phrygian, nhưng đó là âm giai Phrygian của Hy Lạp cổ đại, thay vì âm giai Phrygian trung cổ hay hiện đại. Thật sự là mình muốn viết rõ thêm phần này, nhưng vì chưa đủ trình độ, đọc tài liệu nhạc lý cũng chữ hiểu chữ không, nên thôi mình tạm chưa viết, mong sớm sớm bớt thiếu hiểu biết để bổ xung thêm!
Bỏ qua một bên sự thiếu hiểu biết của mình, khi mình xem trên wiki thì theo ngôn ngữ âm nhạc ngày nay, bài hát của Seikilos có thể, và đã, được viết lại như thế này:
Cuối cùng, mình cảm thấy thật đẹp biết bao khi bài hát này ca tụng tình yêu, ca tụng cuộc sống, bởi mình luôn tin rằng yêu thương là điều duy nhất mà người ta có khả năng trao cho nhau. Và từ thời xa xưa đó, người ta đã yêu, đã hát về tình yêu, đã muốn bao thế hệ sau nhìn thấy được một “dấu chỉ lâu bền của một sự tưởng nhớ vĩnh hằng”, vậy sao mình lại không?